Theo phản ánh của công dân, năm 1985, gia đình được UBND xã giao 180m2 đất, có đơn xin giao đất và xác nhận của chính quyền địa phương.
Đến năm 2002, gia đình tiếp tục được giao thêm phần đất phía sau, tuy không có quyết định giao đất nhưng có biên lai thu tiền đấu thầu.
Trong giai đoạn 2006-2008, khi triển khai giải phóng mặt bằng Quốc lộ 21, một phần diện tích đất (thuộc phần giao năm 1985) đã bị thu hồi và được bồi thường. Hiện nay, gia đình vẫn sử dụng thửa đất gồm hai phần diện tích hình thành từ hai thời điểm như trên.
Đáng chú ý, thửa đất này có một phần nằm trong hành lang an toàn đường bộ và quy hoạch Quốc lộ 21 (tính từ tim đường sang mỗi bên 21m). Trên đất đã xây dựng nhà ở nhưng đến nay vẫn chưa được cấp sổ đỏ.
Từ thực tế này, công dân đặt ra hàng loạt câu hỏi: Thửa đất có đủ điều kiện cấp sổ đỏ hay không? Thời điểm sử dụng đất được xác định thế nào khi có hai mốc khác nhau? Biên lai thu tiền đấu thầu có được coi là căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất? Ai là cơ quan xác định việc đất trong hành lang an toàn có đủ điều kiện cấp giấy hay không?

Trả lời vấn đề trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, nội dung phản ánh là vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương và cần căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, các quy định cụ thể địa phương đã ban hành theo thẩm quyền để thi hành Luật Đất đai để xem xét, giải quyết.
Do đó, Bộ không có cơ sở để trả lời. Tuy nhiên, Bộ nêu ra một số nguyên tắc.
Điều 135 Luật Đất đai năm 2024 quy định một trong các nguyên tắc cấp giấy chứng nhận là giấy chứng nhận cấp theo từng thửa đất cho người có quyền sử dụng đất có nhu cầu và đủ điều kiện theo quy định của Luật này.
Tại các Điều 137, 138, 139 và 140 của Luật Đất đai đã quy định về việc cấp giấy chứng nhận lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất.
Việc sử dụng đất ổn định, việc xác định thời điểm sử dụng đất ổn định quy định tại khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai, điểm b khoản 3 Mục II nội dung C Phần V Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đất đai.
Trình tự, thủ tục thực hiện do UBND cấp tỉnh quy định theo Điều 15 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật đất đai.
Khi thực hiện cấp giấy chứng nhận, trường hợp thửa đất hoặc một phần thửa đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình, khu vực bảo vệ, vành đai an toàn thì thể hiện thông tin trên giấy chứng nhận theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 8, khoản 7 Điều 33, điểm a khoản 1 Điều 39 Thông tư số 10/2024/TT-BTNMT ngày 31/7/2024 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) quy định về hồ sơ địa chính, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Liên quan đến việc hành lang bảo vệ an toàn công trình đường bộ, Bộ đề nghị công dân liên hệ với cơ quan quản lý về xây dựng ở địa phương để được giải đáp.
|
Theo khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai thì sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sử dụng đất ổn định. Về trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất lần đầu đối với cá nhân, cộng đồng dân cư, hộ gia đình đang sử dụng đất, theo điểm b khoản 3 Mục II nội dung C Phần V Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025 thì cấp xã sẽ trực tiếp xác nhận hiện trạng sử dụng đất, bao gồm việc có hay không nhà ở, công trình xây dựng; đồng thời xác nhận tình trạng tranh chấp đất đai. Việc xác nhận tranh chấp căn cứ vào việc xã đang thụ lý đơn hòa giải, nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền, hoặc có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp. Đáng chú ý, trong trường hợp người dân không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, UBND cấp xã sẽ xác định nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất theo quy định tại khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai. Việc xác nhận sử dụng đất ổn định được căn cứ vào thời gian và mục đích sử dụng đất tại một trong các giấy tờ từ biên lai nộp thuế, hóa đơn điện nước, giấy tờ mua bán, bản đồ đo đạc, đến các giấy tờ cư trú… Thậm chí, nếu thiếu toàn bộ giấy tờ, việc xác nhận có thể dựa trên kê khai của người sử dụng đất kết hợp với hiện trạng thực tế. Trong trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 137 Luật Đất đai và thời điểm bắt đầu sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ không thống nhất, nguyên tắc được áp dụng là lấy mốc thời gian sử dụng đất sớm nhất có thể xác định. Một điểm đáng chú ý khác là việc xác nhận sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất. Tùy từng trường hợp, UBND cấp xã sẽ phải đối chiếu với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã hoặc các quy hoạch đô thị và nông thôn, lâm nghiệp, hạ tầng công cộng… Việc xác nhận này phải căn cứ vào quy hoạch đang có hiệu lực tại thời điểm xác nhận. |

Theo Luật Đất đai, đối với thửa đất có đất ở và đất khác thì không bắt buộc thực hiện tách thửa khi chuyển mục đích sử dụng một phần thửa đất, trừ trường hợp người sử dụng đất có nhu cầu tách thửa.

Sau sắp xếp, đơn vị hành chính thuộc địa bàn xã được xác định là đất ở tại nông thôn. Hạn mức công nhận đất ở do UBND cấp tỉnh quy định.

Người dân cho rằng quy định hồ sơ đăng ký biến động đất đai phải có sổ đỏ bản gốc là bất cập, nhất là trong trường hợp tranh chấp đất đai bên thua kiện không giao giấy chứng nhận.

















